logo

Copyright ©2017 Chụp cộng hưởng từ

Chụp cộng hưởng từ tiền liệt tuyến giúp phát hiện ung thư

Ung thư tiền liệt tuyến thường được đánh giá qua kết quả khám lâm sàng, xét nghiệm nồng độ PSA và điểm Gleason trên sinh thiết. Tuy nhiên với sự phát triển của khoa học công nghệ, chụp cộng hưởng từ tiền liệt tuyến giúp phát hiện ung thư là điều hoàn toàn có thể.

Hiện nay, ung thư tiền liệt tuyến đang có xu hướng ngày một gia tăng. Chủ yếu là do sự phổ biến của sàng lọc bằng xét nghiệm nồng độ PSA huyết thanh.Tuy nhiên điều này lại mang tới những thách thức mới cho các bác sĩ lâm sàng, do ung thư tiền liệt tuyến là một loại ung thư tiến triển rất chậm, vấn đề đặt ra với những trường hợp được phát hiện sớm là làm sao để có thể lựa chọn được phác đồ phù hợp nhằm tối đa hóa vấn đề kiểm soát khối u trong khi tối thiểu hóa những tai biến có thể xuất hiện trong quá trình điều trị cũng như chẩn đoán bệnh.

Tỉ lệ mắc cao, diễn tiến tự nhiên chậm song lại thường được phát hiện sớm khiến cho vấn đề kiểm soát ung thư tiền liệt tuyến trở nên phức tạp và gây nhiều tranh cãi. Việc áp dụng sàng lọc rộng rãi bằng PSA có thể dẫn tới việc phát hiện và điều trị thái quá đối ung thư tiền liệt tuyến đặc biệt là các khối u ở giai đoạn rất sớm và ít có ý nghĩa lâm sàng.

Biện pháp điều trị triệt căn như phẫu thuật cắt bỏ toàn bộ tiền liệt tuyến hay xạ trị mặc dù mang lại kết quả kiểm soát khối u lâu dài rất tốt song đồng thời lại có nguy cơ gây ra nhiều biến chứng khác liên quan tới điều trị. Thách thức đối với các nhà lâm sàng là phải phân biệt được các bệnh nhân ung thư tiền liệt tuyến ở giai đoạn tiến triển có nguy cơ tử vong và biến chứng cao với những bệnh nhân ở giai đoạn sớm có thể trì hoãn điều trị phẫu thuật/tia xạ hoặc điều trị nội khoa.

Có nhiều khuyến cáo khác nhau giúp cho việc đánh giá, phân loại bệnh nhân. Một trong các bảng phân loại được áp dụng phổ biến hiện nay là bảng phân loại Partin (Partin tables), đánh giá dựa vào lâm sàng, điểm Gleason và nồng độ PSA huyết thanh. Trong đó nguy cơ thấp được định nghĩa là bệnh nhân có PSA <10 ng/ml, điểm Gleason ≤ 6, giai đoạn TNM T2a hoặc thấp hơn. Nhóm nguy cơ cao là nhóm có PSA>20ng/ml, điểm Gleason ≥ 8, T2c hoặc cao hơn. Nhóm nguy cơ trung bình là nhóm PSA từ 10-20ng/ml, T2b và Gleason 7 điểm. Tuy nhiên, bảng điểm này không bao gồm các kết quả của thăm khám hình ảnh để có thể định hướng áp dụng các phương pháp can thiệp tối thiểu tại chỗ.

chụp cộng hưởng từ tiền liệt tuyến
Chụp cộng hưởng từ tiền liệt tuyến đem lại hiệu quả không ngờ trong việc phát hiện ung thư

Chụp cộng hường từ cung cấp cho các bác sĩ những hình ảnh giải phẫu chi tiết với độ phân giải và tương phản cao, đa bình diện giúp phân loại chi tiết tổn thương ung thư do đó giúp làm giảm tỉ lệ phải tiến hành sinh thiết cũng như giúp làm giảm số mẫu sinh thiết của bệnh nhân do tổn thương đã được định hướng từ trước..

Để đạt được hình ảnh có chất lượng đủ để chẩn đoán, cần sử dụng máy chụp cộng hưởng từ với từ lực cao ít nhất từ 1,5T trở lên. Có thể sử dụng các coil bề mặt đơn thuần hoặc kết hợp thêm các coil trực tràng để đạt được chất lượng hình ảnh tốt hơn. Tuy nhiên đối với các máy có từ lực cao 3T, có thể chỉ sử dụng coil bề mặt là đủ.

Protocol chụp cộng hưởng từ tiền liệt tuyến thường quy gồm các xung T1W, T2W, DWI đa bình diện có thể kết hợp thêm DCE-MRI.

Chụp lấy toàn bộ khung chậu trên xung T1 để phát hiện chảy máu sau sinh thiết trong mô tuyến hoặc các tổn thương di căn hạch hay xương cánh chậu.

Cấu trúc giải phẫu chi tiết của tiền liệt tuyến sẽ được đánh giá cụ thể trên xung T2W, giúp xác định vị trí và hình thái cũng như đặc điểm của tổn thương ung thư. Trên chuỗi xung này tổn thương ung thư biểu hiện bằng những vùng giảm tín hiệu nằm bên trong vùng tăng tín hiệu của khu vực ngoại vi tiền liệt tuyến. Tuy nhiên, tổn thương giảm tỉ trọng còn gặp trong tổn thương viêm và dễ dẫn tới dương tính giả.

Chuỗi xung DWI giúp đánh giá mức độ khuếch tán của các phân tử nước, bất thường trên DWI phản ánh sự thay đổi về cấu trúc và mật độ tế bào của tiền liệt tuyến. Nhìn chung, tổn thương ung thư tiền liệt tuyến thường có hạn chế khuếch tán (ADC thấp).

DCE-MRI đánh giá sự thay đổi về tín hiệu của tổn thương u theo thời gian sau khi tiêm thuốc đối quang từ. Thuốc đối quang từ được sử dụng là thuốc đối quang ngoại bào bản chất gadolinium, được tiêm trực tiếp vào tĩnh mạch và đi từ lòng mạch ra khoảng gian bào. Tốc độ khuếch tán ra khoảng gian bào của thuốc đối quang phụ thuộc vào mức độ tưới máu, tính thấm của mô và thành mạch.

Trên T1W, thuốc đối quang làm tăng thời gian thư giãn của máu cũng như các phân tử nước trong khoảng gian bào, vì vậy làm biến đổi tín hiệu của mô. DCE-MRI được thực hiện bằng cách chụp liên tiếp các ảnh T1W của tiền liệt tuyến sau tiêm thuốc đối quang trong thời gian vài phút.

Các hình ảnh thu được từ việc chụp cộng hưởng từ tiền liệt tuyến sẽ cung cấp các thông tin về tính thấm thành mạch, tình trạng tưới máu của khối u. Ung thư tiền liệt tuyến thường có tăng sinh mạch do đó ngấm thuốc đối quang mạnh ở thì động mạch sớm.

Trong những năm gần đây, với những tiến bộ mới trong kỹ thuật chụp cộng hưởng từ tiền liệt tuyến với các chuỗi xung bổ sung như DWI hay DCE-MRI đã cung cấp một phương pháp chẩn đoán nhiều hứa hẹn trong việc phát hiện, xác định vị trí, tính chất và giai đoạn cũng như giúp cho dự kiến điều trị ung thư tiền liệt tuyến.

Nguồn: http://www.yhth.vn

Xem thêm

×

Hãy chọn tỉnh thành của bạn

0906 99 33 30 Đặt lịch